Tôi gặp lại thầy trong không khí đầm ấm quen thuộc của ngày nhà giáo Việt Nam 20/11. Căn phòng khách cổ kính mở rộng cửa chào đón tôi - một trong số vô vàn những học sinh của thầy. Thầy vẫn ngồi đó, mỉm cười đôn hậu và run run bắt tay tôi. Trông thầy đã khoẻ lên nhiều nhưng đâu đó vẫn phảng phất bóng dáng của căn bệnh tai biến não hiểm nghèo. Tôi hơi lúng túng bởi đây là lần đầu tiên hai thầy trò trao đổi những vấn đề ngoài văn chương, nhưng dù sao thì câu chuyện cũng bắt đầu...
- Sức khoẻ của thầy đã ổn định chưa ạ?
- Hôm nay là vừa tròn năm tháng kể từ ngày thầy phải đi cấp cứu. Sức khoẻ cũng đang dần hồi phục. Hàng ngày thầy phải ăn kiêng và tập đi bộ. Cái hôm tự đi được ra đến đường nhìn đường xá tấp nập đông vui lại nhớ ngày xưa dạy chúng mày cái câu "Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về". Có lẽ nếu 20/11 này khoẻ thầy sẽ về trường để gặp lại mọi người. Từ hôm bị ốm đến bây giờ thầy chưa về trường lần nào cả.
Tôi mừng vì thấy thầy còn minh mẫn lắm. Thầy vẫn nhận ra tôi và nói chuyện rất chân tình, cởi mở. Ơn trời, căn bệnh quái ác kia không làm mất đi cái phong thái ung dung của thầy.
- Thầy bắt đầu cái nghiệp "gõ đầu trẻ" từ bao giờ?
- Thầy đi dạy từ năm 1965, đến bây giờ đã ba mươi chín năm rồi. Ban đầu thầy dạy ở trường Tiên Du (Hà Bắc) bảy năm rồi đi bộ đội sau đó về Hà Nội dạy ở trường Hoàng Văn Thụ và Việt Đức, cuối cùng thì dừng chân ở trường ta.
-Từ khi nào thầy chọn trường Ams làm nơi công tác và tại sao thầy lại chọn ngôi trường này?
- Trước đây thầy dạy lớp chuyên văn đầu tiên của Hà Nội ở trường Việt Đức, sau khi Sở GDĐT Hà Nội quyết định tập hợp tất cả các lớp chuyên để thành lập trường Hà Nội-Amsterdam năm 1985 thì thầy theo lớp chuyên văn về trường.
- Chắc ngày xưa thầy cũng là một học sinh giỏi văn nhưng điều gì đã khiến thầy bước theo con đường văn chương cho đến bây giờ?
- Trong lớp mọi người cũng nhận xét là mình giỏi văn, nhưng mình thì cho mình không thật giỏi. Thầy chỉ dám nhận là mình thích văn, mà đó là nhờ bố thầy. Ông cụ yêu văn lắm, thích đọc và thích viết văn. Có lẽ vì vậy mà thầy có ảnh hưởng ít nhiều từ ông cụ. Cũng vì thích văn mà thầy mới đi theo cái nghiệp này chứ trước kia thầy thích kiến trúc hơn là sư phạm. Nhưng rồi càng ngày càng yêu nghề và nhận ra được cái đẹp, cái cao quý trong công việc của mình.
- Trong suốt quá trình giảng dạy lứa học trò nào để lại cho thầy những ấn tượng sâu sắc nhất?
- Thầy có nhiều học trò thân lắm. Nói chung mỗi khóa thầy đều có những học sinh mà thầy quý như các khóa ra trường năm 85, 97, 2000. Nhưng học sinh mà thầy quý nhất là chị Phạm Hải Anh là học trò lứa chuyên văn lứa đầu tiên của thầy (1985). Chị được giải toàn quốc, vào thẳng đại học sư phạm rồi ở lại làm cán bộ giảng dạy. Chị bảo vệ luận án tiến sĩ với số điểm tuyệt đối 10/10. Bây giờ thì chị đang sống ở Hà Lan và là tác giả của nhiều cuốn sách gây tiếng vang cả ở trong và ngoài nước.
- Thầy có thể kể về những kỉ niệm vui buồn trong nghiệp sư phạm được không ạ?
- Kỉ niệm thì thầy có nhiều lắm, nhớ nhất là hồi dạy ở Hà Bắc phải tiễn học trò của mình ra trận. Rồi mình cũng lên đường nhập ngũ, về đơn vị gặp lại học trò giờ lại là cán bộ cấp trên của mình, vui lắm! Bây giờ nhiều học trò đã làm đến ủy viên TW Đảng nhưng thầy trò vẫn thỉnh thoảng gặp nhau nói chuyện. Hạnh phúc nhất là tất cả những học trò của mình đều đã thành đạt. Không phải trực tiếp đem lại sự thành đạt cho các em nhưng mình nhận ra trong đó một phần nhỏ công sức của mình.
- Có điều gì khiến thầy ân hận, day dứt không?
- Trước khi vào nghề có lẽ mình chưa nhận thức được hết cái tình, cái nghĩa, vái đẹp của cái nghề cao quý này. Càng đi dạy nhiều năm mới thấy nó khó. Dạy con người đã khó, đem những giá trị văn chương đến cho tuổi trẻ càng khó hơn. Bây giờ già rồi mới thấy thấm thía những điều ấy.
- Thầy có cảm thấy buồn không khi mà vì lí do sức khoẻ thầy đã không thể tiếp tục đứng trên bục giảng?
- Vui buồn thì lúc nào cũng có nhưng có lẽ cái buồn nhất là khi mình đã già không còn khả năng giúp ích cho bọn trẻ nữa. Nó không chỉ đơn thuần là nỗi buồn của của một người phải về hưu mà còn là nỗi buồn của một người về hưu không còn đủ sức khoẻ. Cũng không ngờ các em là lứa học trò cuối cùng của thầy.
- Thầy mong chờ điều gì nhất đối với ngành giáo dục và với những học sinh của mình?
- Đối với ngành GD-ĐT, thầy mong làm sao có những cải tiến mang ý nghĩa quyết định để dư luận xã hội không kêu ca như bây giờ. Nếu làm được, thầy tin rằng thế hệ học trò mới sẽ làm được hơn rất nhiều so với thế hệ đi trước. Mọi người vẫn nói "Con hơn cha là nhà có phúc", học trò vượt được thầy mới là điều đáng quý.
Còn với các em học sinh thầy mong mỗi người chọn được định hướng cho đời mình. Ngoài những định hướng chung của xã hội thì mỗi cá thể phải chọn cho mình một con đường riêng, có ích. Cũng cần phải thấy nhiệm vụ của người thầy không phải là ép học sinh đi theo hướng này hướng khác mà phải khơi trúng cái khả năng của tuổi trẻ để các em vững vàng đi trên con đường của riêng mình.
- Không như các thầy cô giáo dạy văn khác, thầy chẳng bao giờ bắt học sinh phải soạn bài cả... vậy phương châm giảng dạy của thầy là gì?
_ Xuất phát từ một cái nhìn thực tế: mỗi giáo viên mất bốn năm học nghề sư phạm sau đó lại phải nghiền ngẫm, nghiên cứu để soạn ra một bài giảng sao cho được hay được nhuyễn để truyền lại cho học sinh. Vậy tại sao lại phải bắt các em thực hiện một công việc tương tự như vậy? Chưa kể đến việc các em còn hơn mười môn khác để học và chuẩn bị. Sự thực là việc soạn bài của các em nếu có chỉ mang tính chất đối phó, chép ở sách rồi chép của bạn. Tôi chỉ muốn các em đọc kĩ tác phẩm, cày bừa nó lên để đến khi lên lớp ông thầy sẽ gieo vào đó những hạt giống tốt.
- Có những ý kiến cho rằng môn văn hiện nay quá xa rời thực tế vì tuy những tác phẩm được chọn để đưa vào giảng dạy đều là những tác phẩm hay thậm chí là kinh điển nhưng hầu hết lại nói về quá khứ, về chiến tranh chứ không thấy rõ hơi thở của cuộc sống hiện tại. Điều này nhiều khi khiến học sinh không mấy hứng thú với môn văn. Thầy nghĩ gì về điều này?
- Lỗi không phải ở học sinh, cũng không phải ở những tác phẩm được chọn mà lỗi là ở người thầy. Ở nước nào cũng vậy, người ta không thể không đưa những tác phẩm văn học vào giảng dạy. Vấn đề là người thầy phải đưa những kiến thức, những giá trị quá khứ vào trong đôi mắt của thời đại, phải phát hiện ra những vấn đề hôm nay và đi tìm lời giải đáp trong những tác phẩm văn học quá khứ. Không có tác phẩm nào là không có tiếng nói trong cuộc sống hiện tại, ngay cả các tác phẩm về chiến tranh, vẫn có chứ! Thời chiến người ta dẹp đi cái riêng để phụng sự cái chung, bây giờ lại là lúc người ta nhân danh cái riêng để quên đi cái chung. Vì vậy mà chính những tác phẩm đó đã góp phần điều chỉnh lại mối quan hệ giữa người với người.
-Chấm điểm môn văn rất khó, barem điểm không rõ ràng như các môn khoa học tự nhiên chưa kể giọng văn mỗi người mỗi khác, vậy theo thầy điều gì là mấu chốt khi cho điểm một bài văn của học sinh?
- Môn văn vốn là một môn mang tính định tính nhiều hơn định lượng. Nhưng dẫu sao nó cũng là một bộ môn khoa học, không thể nhân danh cái định tính để làm mơ hồ tất cả. Phải kết hợp nhiều yếu tố để tìm ra cách đánh giá đúng đắn như cách dạy, cách ra đề theo đặc điểm riêng của bộ môn. Có lẽ nên học tập theo cách chấm văn ngày xưa của các cụ đó là YÊU_BÌNH_THỨ_LIỆT.
- Thầy có thể cho chúng em một vài lời khuyên về cách viết và học văn?
- Phương pháp thì nhiều lắm nhưng theo thầy đọng lại có vài cách thế này. Thứ nhất là phải đọc nhiều, không chỉ đọc những tác phẩm văn học mà còn có thể tham khảo thêm từ báo chí vv... Thứ hai là phải viết nhiều, cũng không phải chỉ là viết văn đơn thuần mà có thể viết nhật kí, viết thư.v.v. nhưng khi viết phải luôn có ý thức rèn luyện cách sử dụng từ ngữ và cú pháp. Cái đích quan trọng nhất của việc học văn là đến với đời, hiểu đời cũng là để hiểu văn hơn.
- Là người gắn bó sâu sắc với văn chương ắt hẳn thầy cũng có những sáng tác của riêng mình. Thầy có thể bật mí với chúng em về một vài tác phẩm mà thầy tâm đắc nhất?
-Nói chung ai cũng nên tập sáng tác, cả thầy cô và học trò cũng vậy. Trước hết là để thỏa mãn những nhu cầu của cá nhân mình, sau là để hiểu hơn về cái công việc bếp núc của người làm văn chuyên nghiệp. Từ đó mà hiểu sâu hơn những tác phẩm mà mình được học. Thầy cũng chẳng có tác phẩm nào thật tâm đắc nhưng có thể kể đến cuốn sách "Một chuyến đi đáng nhớ" và bài thơ " Tiếng trống ngày ra trường"
- Vậy thầy thích những tác phẩm nào?
- Thầy thích những câu chuyện của Pautốpxki. Văn của ông tuy không phải một thứ triết học nhưng mang đầy màu sắc lãng mạn và đễ trở thành bạn của người đọc. Trong nước thì thầy rất thích Nguyễn Khải và Chế Lan Viên.
-Lại nói về cuốn sách của thầy, thầy đã có một chuyến du ngoạn châu Âu đáng nhớ...
- Thầy đã qua mấy nước châu Âu như Pháp, Ý, Bỉ, Hà Lan, Đức. Phải nói rằng họ có một nền văn hóa thật tuyệt vời. Thầy đặc biệt thích Paris và Rome. Nhưng cái thu hoạch được trong chuyến đi này không chỉ là mình đã đến được với những xứ lạ mà thầy còn thấu hiểu thêm cái đẹp của nghề nhà giáo. Suốt từ Nội Bài đến châu Âu xa xôi nơi nào thầy cũng gặp lại được những học sinh cũ của mình. Các anh các chị đều đã đón tiếp thầy chu đáo bằng cái tình cái nghĩa của những người học sinh cũ. Thầy nhận ra rằng nếu mình sống thật, sống chân tình, nghiêm khắc nhưng nghiêm khắc trong tình thương thì học trò sẽ hiểu được tình cảm của mình mà thêm quý mến thầy cô.
-Là một giáo viên dạy văn chắc hẳn chuyện "tình cảm" của thầy phải rất lãng mạn...?
- Ai cũng có một thời trẻ trai! Là người học văn nên đời sống tình cảm cũng phong phú lắm. Cái gọi là lãng mạn cũng có chứ không phải không. Nhưng theo thầy không nên để quá nhiều thời gian vào những việc ấy. Cũng không nên cấm đoán tuổi trẻ mà vấn đề là phải làm sao để tình cảm ấy thực sự trong sáng như những gì mà nó vốn có.
-Thời học sinh sinh viên của thầy chắc cũng sôi nổi lắm...
-Năm ngoái thầy vừa về kỉ niệm bốn mươi năm ngày ra trường ở trường Chu Văn An. Bạn học người còn người mất nhưng gặp nhau vẫn cười đùa vui vẻ như bốn mươi năm trước. Mỗi thế hệ học sinh có một đặc điểm riêng. Những lớp học sinh năm 60 thì nghèo khổ nhưng mà vui vô cùng. Thầy mong các em sau khi ra trường cũng vẫn mãi nhớ về nhau như thế. Tuổi học trò đẹp lắm, đáng nhớ lắm, trong sáng lắm, vì người ta sống với nhau không chút vụ lợi em ạ.
- Cuộc sống gia đình của thầy thế nào?
- Thầy hạnh phúc vì có cô là đồng nghiệp, thầy và cô cũng đã từng dạy rất nhiều trường cùng nhau. Con cái cũng đã trưởng thành cả, thầy không mong gì hơn nữa. Người ta nên biết bằng lòng với những gì mình có. Vui nhất là những gì mình truyền dạy cho con cái cũng như học sinh chúng đều hấp thụ được cả!
-Hiện tại thầy có mong ước làm một điều gì đó không?
- Bây giờ thầy chỉ mong hồi phục thật nhanh để có sức khoẻ rồi trở lại theo một cách nào đó có ích cho học trò. Nhớ học trò lắm, ai ở vào hoàn cảnh của thầy chắc mới hiểu được...
- Thầy đã biết gì về mạng học sinh-cựu học sinh của trường HAO chưa?
- Thú thực đến bây giờ thầy mới nghe nói về website này. Thầy rất mừng vì thế hệ học trò bây giờ đã làm được những điều mà trước đây có nằm mơ thầy cũng không thực hiện được. Thầy cho rằng đây là một việc làm rất tốt của các em. Thầy có vài ý kiến thế này. Các em nên có những thống kê thành tựu nổi bật của trường, có những chuyên mục dành cho những kỉ niệm của học sinh và thầy cô giáo, cũng như nên có những chuyên mục để mọi người thảo luận về những vấn đề của xã hội. Chúc các em thành công.
-Nhân ngày 20/11 chúng em cũng xin chúc thầy cùng gia đình mạnh khoẻ, hạnh phúc.
Thực hiện bởi Lê Đức Phương ( Hóa 1 00-03) ngày 17/11/2003

"Bình này, sao lúc nào cũng hớt ha hớt hải như mất sổ gạo thế. Đi học muộn thầy không mắng đâu mà sợ. Cứ từ từ mà đi." Thầy đã nói câu đó năm tôi còn học cấp III, vậy mà giờ thỉnh thoảng nghĩ lại, tôi vẫn nhớ rất rõ khuôn mặt hiền hiền, nụ cười tươi tắn cùng giọng nói têu tếu của thầy.
Thầy là vậy, luôn yêu thương, quan tâm đến học trò. Những câu nói của thầy nhẹ nhàng, hóm hỉnh, khiến học trò luôn cảm thấy gần gũi, thân thuộc như người một nhà.
Còn nhớ ngày vào thăm thầy ở bệnh viện, thầy mệt lắm nhưng đôi mắt lúc nào cũng cười, học trò đến thăm, thầy bảo: "Ở viện buồn lắm, bác sĩ không cho nói nhiều, các em cứ nói chuyện cho thầy nghe. Đợi khi nào thầy ra viện, thầy nói cho các em nghe." Vậy là ai cũng huyên thuyên, cười nói vui vẻ. Khi ra về, ai cũng tin thầy sẽ mau hồi phục.
Và rồi ngày thầy ra viện, thầy lại nói cho chúng tôi nghe. Thầy kể những ngày ở viện, thầy nhận ra mình đọc nhiều nhưng lại không đọc một mảng cực kỳ quan trọng: Sức khoẻ. Và con người thật kì lạ, luôn biết cách làm thế nào để giữ sức khoẻ nhưng lại chẳng bao giờ làm, chỉ khi mắc bệnh mới quyết tâm thực hiện.
Thầy bảo ở nhà nhiều cũng có cái hay. Trước là có nhiều thời gian dạo chơi quanh khu phố, hiểu hơn về cuộc sống của bà con xung quanh. Thứ là thấy khu phố còn thiếu câu lạc bộ thơ văn, nên không sợ thất nghiệp ở nhà.
Cứ thế, cứ giọng tếu táo, vui tươi như thế, thầy kể cho chúng tôi về những ngày không đến trường, không được gặp học trò. Chúng tôi tự nhiên cũng lây cái nhìn yêu đời, yêu người của thầy.
Cuộc đời vẫn đẹp, dù chúng ta có ở cuối đường, đúng không thầy?
Trần Thuý Bình
Văn 93-96