Một số vấn đề xung quanh đào tạo tiến sĩ ở VN

Gửi các bạn đọc bài của tác giả Hoàng Văn Dụ về vấn đề này. Đề tài này theo tôi hơi cao hơn khả năng và hiểu biết của các bạn học sinh trung học một chút, nhưng sẽ vừa tầm cho các bạn sinh viên loại khá có từ 2 năm kinh nghiệm ở bậc đại học trở lên. Vì quan tâm đến tính khách quan tôi chủ ý không đưa ra những bài viết của các tác giả sống ở NN, vậy mời các bạn theo dõi học giả trong nước bình luận về vấn đề này nhé :)

--------------------------------------------------------------
Tiến sĩ là ai? - Ai là tiến sĩ?
Hoàng Văn Dụ

Dư luận xôn xao về bài viết của Lại Nguyên Ân. Chiều ngày 29/10/2003, trong giờ giải lao (kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XI), các phóng viên báo chí đã nhất quyết không để Bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển từ chối trả lời những vấn đề “nóng” hiện nay về GD-ĐT. Trong đó, có nhà báo đã đặt câu hỏi: “ Bộ trưởng có quan điểm như thế nào khi mà hiện nay, dư luận đang có nhiều ý kiến khác nhau về bài báo: ”Vẫn trong vũ điệu của cái bô” (Văn nghệ số 43) và “Có một “công nghệ chế tạo tiến sĩ” như thế!” (Tiền Phong chủ nhật số 42) của tác giả Lại Nguyên Ân và nhiều bài xung quanh về vấn đề này đã được đăng ở nhiều báo? Rất tiếc, vấn đề lớn như vậy và liên quan đến phạm vi mình phụ trách, ông Bộ trưởng trả lời cụt lốc: “ Tôi chưa đọc”.

Tại sao, bài viết của Lại Nguyên Ân (LNÂ) lại gây “chấn động” đến các vị Tiến sĩ, phó Giáo sư và Giáo sư như vậy? Thậm chí, có vị nóng quá mất khôn, nên khi viết bài phản đối LNÂ đã tập trung tìm ra những lời gọi là "lăng mạ, làm nhục người khác", nhưng chính các vị đó lại trích dẫn cắt xén không chính xác (và có chủ ý, đi ngược lại bản chất khoa học là phải chính xác và khách quan) và cũng lăng nhục lại LNÂ có phần hơn! Đơn giản, LNÂ đã đụng chạm vào vùng mà chúng ta thường hay gọi là “vùng nhạy cảm” của trí thức (dởm và thật) bậc cao hiện nay.
Tôi đã đọc bài của LN và nhiều bài phản đối cũng như ủng hộ LNÂ. Đôi chỗ tôi chưa nhất trí cách viết của LN (và đây cũng là chỗ để có cớ để "họ" phản đối). Nhưng tôi rất thất vọng khi đọc các bài tranh luận không có tính lý luận khoa học, mà chỉ nặng về những lời lẽ phê phán, chụp mũ cho nhau. Trong đó (rất tiếc), có nhiều vị tự nhận là hướng dẫn không biết bao nhiêu thạc sĩ, tiến sĩ. Có người ủng hộ trên báo đã viết ”Điều đáng buồn là…Lại Nguyên Ân đã nêu một hiện tượng có thật”. Người khác thì lại cho rằng, việc "ấy" cũ lắm rồi, đâu có mới mà làm ầm ĩ cả lên…
Phải chăng có phong trào: Đổ xô kiếm “mác” tiến sĩ để thăng tiến?
Có người cho rằng, ngành giáo dục vẫn đang tiếp tục “sản xuất” bằng tiến sĩ theo tiêu chuẩn của riêng mình, và do cơ chế đề bạt cán bộ nên xảy ra tình trạng "Đổ xô kiếm "mác" tiến sĩ để thăng tiến".
Tiến sĩ là học vị cao nhất trong khoa học. Tuy nhiên, tại Việt Nam, bằng tiến sĩ “hấp dẫn” chủ yếu đang chỉ bởi tư cách là “giấy thông hành” bắt buộc cho sự thăng tiến. Số người dự định theo học sau đại học với toan tính có bằng cấp cao để dễ bề tiến thân mà không phải vì thực sự đam mê nghiên cứu khoa học ngày càng nhiều.
Người có học vị tiến sĩ trở lên ở nước ngoài được coi là bác học mà nghề nghiệp chính là nghiên cứu và sáng tạo, việc đào tạo tiến sĩ chủ yếu phục vụ nghiên cứu khoa học tại các viện, giảng dạy ở bậc đại học và phòng thí nghiệm cho sản xuất chế tạo. Trong khi đó, ở Việt Nam, số lượng tiến sĩ là cán bộ quản lý khá nhiều. Một GS TS là đại biểu Quốc hội cho rằng, chúng ta đang thiếu nhiều tiến sĩ, nhiều giáo sư, nhưng không phải là những tiến sĩ, giáo sư để thăng tiến trong quản lý. Chúng ta đã không hiểu, lãnh đạo, quản lý có yêu cầu riêng, đòi hỏi nhiều về khả năng tập hợp, tổ chức và hoạt động thực tiễn. Cho nên, một số vị quan chức ở các cơ quan Đảng và Nhà nước chẳng liên quan gì đến nghiên cứu khoa học hay giảng dạy cũng loay hoay kiếm cho được tấm bằng tiến sĩ để đạt “chuẩn hoá”! Các nước tiên tiến không đặt vấn đề đào tạo tiến sĩ cho mục tiêu quan chức.
Chất lượng tiến sĩ và đào tạo tiến sĩ như thế nào?
Trong bài “ Bàn lại vấn đề học vị tiến sĩ” của tác giả Trần Văn Thọ, đăng trên Tạp chí Tia sáng, số 19, tháng 9/2003 đã phần nào phản ánh đúng sự thật về: "Văn bằng tiến sĩ ở Việt Nam tiếp tục là đối tượng bị chế giễu trong thiên hạ, nhưng người ta vẫn tiếp tục đỏ xô vào việc lấy bằng và Nhà nước vẫn tiếp tục cho đào tạo và cấp bằng này là do chúng ta hiểu chưa đúng về chuẩn mực của luận án tiến sĩ nói riêng và trình độ của người được cấp bằng tiến sĩ nói chung, cơ chế đào tạo quá lỏng lẻo, tiêu chuẩn của giáo sư hướng dẫn không được quy định nghiêm túc, chưa xác lập được cơ chế đánh giá khách quan về luận án tiến sĩ và suy nghĩ sai về ý nghĩa của văn bằng này".
Bằng tiến sĩ của chúng ta có một khoảng cách khá xa so với chuẩn mực quốc tế! Đó là một thực tế không thể phủ nhận. Theo một GS. Vụ trưởng của Bộ GD-ĐT, chất lượng khoa học nhiều luận án tiến sĩ chưa cao, chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo chưa tương đồng với các nước, đề cương các môn học thường viết sơ sài, có tính hình thức, tài liệu tham khảo liệt kê vừa ít, vừa lạc hậu, thậm chí có tài liệu hầu như không tồn tại.
ở Việt Nam, việc học bậc tiến sĩ quá đơn giản. Người học tại chức cũng có thể bảo vệ thành công luận án trong 3-4 năm. Tại nhiều cơ sở đào tạo, nghiên cứu sinh chỉ phải học 3 chuyên đề thầy giáo gói... trong một ngày, sau đó tự làm các tiểu luận, quan hệ với giáo sư hướng dẫn khá lỏng lẻo, tiêu chuẩn của giáo sư hướng dẫn chưa được quy định nghiêm túc. Nếu như ở các trường đại học lớn của các nước trên thế giới, chỉ có khoảng 50% số giáo sư tại mỗi khoa có tư cách dạy ở bậc tiến sĩ, thì ở Việt Nam, thầy là tiến sĩ hướng dẫn cho trò làm luận án tiến sĩ là chuyện không có gì đáng ngạc nhiên! Và nhiều người có học hàm, học vị nhưng đã chuyển sang làm các công việc khác không liên quan đến nghiên cứu và giảng dạy, nhưng vẫn được mời làm thành viên hội đồng chấm luận án, thậm chí được mời làm giáo sư hướng dẫn cho nghiên cứu sinh!
Xin mạn phép trích lại trong bài: “Bê tráp theo thầy” và làm khoa học “dỏm” của Nguyễn Hoà trên Báo Tiền phong số 44 ngày 2/11/2003. “ PGS TS Triết học HQ – người được học trò chơi chữ gọi là “PSG thất học” vì ông giảng dạy bẩy bộ môn khoa học khác nhau! Lên lớp cho nghiên cứu sinh về Kito giáo, thấy ông nhiều lần nhắc tới tín điều “tam vị, nhất thê”, học trò hơi bị lạ tai (đúng ra là "nhất thế", do không hiểu nên giảng là là "thê" có nghĩa là vợ) nên đã đề nghị ông cho biết “tam vị, nhất thê” là cái món gì? Ông liền tỉnh queo giải thích: “ Tam vị là ba người gồm Đức Chúa cha, Đức Chúa con và Thánh thần, nhất thê là chỉ bà Maria. Tam vị nhất thê là ba ông lấy chung một vợ”.
Một số nguyên nhân dẫn đến chất lượng tiến sĩ chưa đạt yêu cầu.
1 - Quy hoạch đào tạo tiến sĩ có vấn đề.
Mục tiêu của Việt Nam từ nay đến năm 2010 đào tạo 19.000 tiến sĩ và hiện nay, cả nước đã có khoảng 12.691 tiến sĩ và 610 TSKH (số liệu sách theo quyển "Đổi mới cơ chế quản lý KHCN hiện nay ở Việt Nam, Nhà xuất bản KHKT, năm 2003). Tuy nhiên, có vẻ đây sẽ là một kế hoạch rất “lãng mạn”!
Một ví dụ, ở Thái Lan hàng năm, số lượng tiến sĩ đào tạo chỉ có khoảng 120 -130 người. Trong khi đó, Việt Nam đứng sau Thái Lan về số lượng công trình được đăng trên các tạp chí quốc tế (giai đoạn 1997 đến 2000, Việt Nam chỉ có 2 bằng phát minh sáng chế được đăng ký ở Mỹ…) và trường ĐH tốt nhất của Việt Nam còn kém Thái Lan nhiều bậc mà chúng ta lại dự kiến đào tạo hàng nghìn tiến sĩ mỗi năm!
2 - "Đầu vào" của tiến sĩ.
Ai cũng biết, giống tốt - cây mới tốt. Trong khi đó, "đầu vào "của chương trình đào tạo tiến sĩ lại là những sinh viên chất lượng đào tạo không giống nhau và cũng "giống ai". Có nhiều trường hợp chỉ tốt nghiệp kỹ sư thực hành, đại học tại chức và theo quy chế không được làm nghiên cứu sinh, nhưng thực tế đã có nhiều vị khéo xoay sở và vẫn có bằng tiến sĩ. Chất lượng giảng viên của các trường đại học cũng không theo một chuẩn nào. Ví dụ, một số trường của Đại học Quốc gia Hà Nội thì yêu cầu giảng viên phải có bằng thạc sĩ, nhưng nhiều trường thì sinh viên tốt nghiệp được giữ lại và lên bục giảng ngay. Điều này, thì các nước tiên tiến chắc chắn là không có. Phải chăng chúng ta chưa có tiêu chí dành cho tiến sĩ "nội"? Nhiều người cho rằng, "Tiêu chí cuối cùng để đánh giá chất lượng đào tạo đại học là gì và chúng ta đã có chưa? Theo UNESCO thì: 1/ để làm và làm có hiệu quả; 2/ để biết sống làm người và chung sống với cộng đồng dân tộc, cộng đồng nhân lọai; 3/ để biết tự đào tạo thành con người có nhân cách, con người tự do, con người phát triển toàn diện. Có nghĩa là nền giáo dục phải tạo ra được những con người biết làm việc có hiệu quả và biết sống có nhân bản. Vậy thì những “sản phẩm” của nền giáo dục đại học của chúng ta có đáp ứng được những tiêu chí đó không? Nếu chỉ dựa vào số sinh viên Việt Nam đoạt giải ở các cuộc thi quốc tế, để lạc quan về nền giáo dục đại học sẽ là không ổn".
3 - Quy chế, quy trình đào tạo tiến sĩ chưa hợp lý.
Một nghịch lý, trong khi có nhiều sinh viên không tốt nghiệp ĐH thì (có lẽ) chẳng một nghiên cứu sinh nào lại không bảo vệ thành công lụân án tiến sĩ. Nhiều nước, có giảng viên đại học, sau 3 lần bảo vệ luận án tiến sĩ, nhưng không thành công (và không được bảo vệ nữa) là chuyện thường tình. Còn chúng ta, đã thành lệ, ai đã được làm nghiên cứu sinh là tất yếu trở thành tiến sĩ. Hiện nay, Nhà nước quy định, học thạc sĩ (cao học) thì ai thi và có tiền là được học, trong khi đó, nghiên cứu sinh lại phải do một cơ quan, tổ chức giới thiệu. Như vậy, có đi ngược lại luật Khoa học và Công nghệ là xã hội hoá công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ? Nếu không có nghiên cứu sinh tự do thì làm sao có các cơ sở nghiên cứu tư nhân?
Nhiều người đồng ý với quan điểm, tiến sĩ là học vị cao nhất trong khoa học. Do đó, người được cấp bằng tiến sĩ phải am hiểu các lý luận cơ bản, và nắm vững các khái niệm, các khung phân tích, các lý luận và những tiến triển nghiên cứu mới trong ngành chuyên môn hẹp của mình (chẳng hạn như, kinh tế phát triển, kinh tế quốc tế, kinh tế lao động).
Ở các nước, trình độ nghiên cứu sinh được thử thách và được nhân lên trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận án tiến sĩ. Ngoài tính khoa học, logic tất nhiên phải có, một luận án tiến sĩ phải có hai tính chất quan trọng. Thứ nhất là tính học thuật, trong đó vấn đề phải được triển khai bằng ngôn ngữ khoa học, bằng những khung lý luận cơ bản trong ngành và có đánh giá mức độ thành công của các kết quả mà các công trình nghiên cứu trước đạt được liên quan đến đề tài của mình. Thứ hai là tính độc đáo, luận án phải đặt ra được những giả thuyết hay lý luận mới và kiểm chứng bằng những tư liệu mới hoặc thực tế và mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội.
Còn tại Việt Nam, hình như đa số hiểu sai về ý nghĩa của luận án tiến sĩ. Các đề tài của một luận án tiến sĩ kinh tế học ở Việt Nam thường là “Những giải pháp để…” (chẳng hạn, những giải pháp để huy động vốn, những giải pháp để thu hút đầu tư nước ngoài phục vụ chiến lược công nghiệp hoá…). Dĩ nhiên, các đề tài này có thể được chọn là đối tượng nghiên cứu, nhưng đó chỉ là trường hợp được chọn để kiểm chứng một vấn đề có tính chất lý luận, chứ không phải nhằm để giải quyết một vấn đề thực tế. Chúng ta thử nghĩ, nhiều đề tài cấp nhà nước, cấp bộ, tốn hàng tỷ đồng và huy động hàng chục nhà nghiên cứu, nhưng ít có công trình được áp dụng trong thực tế và mang lại hiệu quả, mà lại kỳ vọng ở công trình của một người với phí tổn đào tạo chưa tới 3 triệu một năm? Cách suy nghĩ chọn đề tài ở Việt Nam chỉ làm cho luận án tiến sĩ thiếu tính học thuật và phần lớn thiếu tính độc đáo. Nội dung, trình độ của luận án do đó còn rất xa mới đạt được tiêu chuẩn tối thiểu của thế giới và người được cấp bằng trong những trường hợp đó khó có thể thảo luận khoa học với chuyên gia nước ngoài trong cùng ngành.
Còn về vấn đề học và nghiên cứu như thế nào để viết được luận án tiến sĩ. ở nước ngoài, khó có thể tưởng tượng được là một người đương đảm trách công việc quản lý xí nghiệp hay quản lý nhà nước mà chỉ trong 3-4 năm có thể lấy bằng tiến sĩ (trừ trường hợp người đó được biệt phái 3-4 năm đi học). Cần nói thêm rằng, chỉ có ở Việt Nam mới có ý kiến đánh giá của giáo sư trong hội đồng chấm luận án, như “luận án này văn phong sáng sủa, bố cục chặt chẽ”. Đáng ra, các nhận xét chỉ xoay quanh tính học thuật và tính độc đáo của lụân án”.
Quy trình đào tạo tiến sĩ của Bộ GD-ĐT vừa rắc rối kiểu hành chính, mất nhiều thời gian, vừa tốn kém mà thiếu cơ sở khoa học, đòi hỏi nghiên cứu sinh nhiều công sức, thời gian và tốn kém, có người phải bỏ ra tới 50-60 triệu đồng sau khi hoàn thành một đống thủ tục rườm rà.
Đơn cử như thủ tục trước khi bảo vệ chính thức, nghiên cứu sinh phải đi xin khoảng 20 lần nhận xét luận án tiến sĩ của các thành viên trong và ngoài hội đồng chấm luận án, riêng việc đi lại chầu chực, chí ít, đã mất 40 lần rồi!
Bộ GD & ĐT thì luôn luôn khẳng định: “phải thắt chặt công tác đào tạo sau đại học!”. Tuy nhiên, thắt chặt bằng cách nào thì hình như Bộ GD-ĐT vẫn đang tìm tòi…chưa có kế hoạch và giải pháp cụ thể. Chỉ biết, chỉ tiêu đào tạo sau đại học vẫn tăng đều hàng năm, mà mặc kệ chất lượng đào tạo. Bất chấp điều kiện thực tế, ngành Giáo dục và Đào tạo vẫn đang tiếp tục "sản xuất" bằng tiến sĩ theo tiêu chuẩn của riêng mình và văn bằng này được xem như "hàng nội địa" tự cấp, tự tiêu! Còn những người được đào tạo, họ ép plastic tấm bằng này và thở phào như vừa lo xong thủ tục "chạy" được giấy thông hành bắt buộc cho sự thăng tiến./.
 
Chỉnh sửa cuối:
Re: Nột số vấn đề xung quanh đào tạo tiến sĩ ở VN

Em xin nói thêm về việc đào tạo thạc sĩ ở VN: chương trình, cách thức đào tạo chẳng khác gì mấy so với đại học. Mà hầu như ai đã học thì chắc chắn sẽ có bằng thạc sĩ.
Tuyển sinh sau đại học thì quá nhiều tiêu cực: hiện tượng phao thi, đút lót chẳng kém gì so với mấy kỳ thi tốt nghiệp trung học.
Bởi vậy đã có người khuyên em: "Đừng có dại dột mà học thạc sĩ ở VN!"
 
Chỉnh sửa cuối:
Nguyễn Kim Giang nói:
Em xin nói thêm về việc đào tạo thạc sĩ ở VN: chương trình, cách thức đào tạo chẳng khác gì mấy so với đại học. Mà hầu như ai đã học thì chắc chắn sẽ có bằng thạc sĩ.
Tuyển sinh sau đại học thì quá nhiều tiêu cực: hiện tượng phao thi, đút lót chẳng kém gì so với mấy kỳ thi tốt nghiệp trung học.
Đào tạo thạc sĩ ở VN, ngoại trừ những chương trình hợp tác với các trừong đ/h loại khá của NN, trên cơ bản (80%-90% programme) là học lại 1-2 năm cuối của chương trình đại học nên thường chẳng có gì hay ho hay mới mẻ cả. Chắc cũng gần 100% ng theo học sau 18 tháng (hoặc lâu hơn chút xíu) đều thành thạc sĩ cả, và đúng vậy ở nhiều nơi thì việc lựa chọn ứng cử viên cho bậc thạc sĩ chứa đựng quá nhiều thủ tục mang tính hối lộ rõ rệt.

Tuy nhiên mục đích chính của chủ đề muốn được bàn ở đây không phải là vấn đề đào tạo thạc sĩ, vì mục đích và quy trình đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ có những sự khác nhau rất lớn và không thể gộp lại bàn cùng 1 lúc được. Một trong những lý do cơ bản theo tôi là XH VN chưa ý thức được sự khác biệt giữa các bậc (academic degrees) và còn khá mơ hồ với đống di sản khổng lồ kế thừa thời phong kiến, eg. khái niệm lãng mạn "tiến sĩ = ông nghè" thời phong kiến, thi hương thi hội thi đình - thi đậu xong thì thành "tiến sĩ ông nghè" rồi ra làm quan, do đó những nhân vật làm chính trị hay quản lý đã dễ dàng dựng lên 1 bộ máy khổng lồ như ngày nay phục vụ những ý đồ và mục đích riêng của họ, cực kỳ phản khoa học. Họ đã đang và sẽ tiêu tiền công nhằm phục vụ mục đích riêng.
 
Đây là trích đoạn trong bài viết của giáo sư Hoàng Tụy, liên quan đến vấn đề đang được đề cập

--------------------------------------------------------
GIẢI PHÁP NÀO CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC ?

Hoàng Tụy

.....................
[Trích đoạn]


Thứ hai là việc đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ. Trên thế giới không ở đâu đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ nhanh, nhiều, rẻ, và ẩu như ở nước ta. Có người nghĩ rằng cứ phóng tay cấp bằng tiến sĩ là vô hại, và càng nhiều tấm danh thiếp mang các học vị cao thì càng quảng cáo tốt, càng thể hiện trình độ văn hoá, khoa học cao của đất nước. Hoàn toàn sai lầm. Thật đáng xấu hổ khi đất nước còn nghèo và lạc hậu mà đã ra đời gần như một công nghiệp đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ dỏm, với những chợ luận văn, với nghề viết thuê luận văn, với đủ thứ thủ đoạn phục vụ việc sản xuất ra những luận văn mà giá trị không hơn những mảnh giấy lộn. Ngay cả những luận văn được làm đứng đắn, thì trừ một số do những giáo sư trình độ cao hướng dẫn, còn chất lượng nói chung khá thấp. Chưa kể có trường hợp thầy làm thay đến 90% luận văn mà nghiên cứu sinh cũng không biết tận dụng thời gian học thêm kiên thức. Đó là kết quả khó tránh của ý muốn tập trung quan liêu: từ việc thi tuyển nghiên cứu sinh đến thành lập Hội đồng chấm luận văn, tổ chức phản biện các luận văn (có cả “phản biện kín”), v.v..., tất cả đều do Bộ trực tiếp quyết định, với ảo tưởng như thế sẽ bảo đảm chất lượng đào tạo. Song thực tế không như vậy, nhiều tiêu cực phát sinh mà Bộ không tài nào kiểm soát nổi, và không ai biết đã có bao nhiêu bằng TS dỏm được sản xuất thời gian qua. Để chỉnh đốn từ gốc, cần rà soát lại để hạn chế chặt chẽ số đơn vị, số ngành được phép đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ, ngành nào còn yếu thì cương quyết chấm dứt đào tạo trong nước để gửi ra đào tạo ở nước ngoài. Đồng thời trả lại cho các đơn vị được phép đào tạo quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm đầy đủ từ việc tuyển nghiên cứu sinh, lựa chọn chương trình đào tạo cho đến cấp bằng. Hơn ở mọi khâu khác, ở đây cần chú trọng chất lượng vì chạy theo số lượng rất nguy hiểm cho tương lai cả giáo dục lẫn khoa học. Chẳng hạn từ nay đến 2010 mà định đào tạo 15000 tiến sĩ thì thật quá liều.

Thứ ba là việc xét phong các chức danh GS, PGS. Không ít người đã bày tỏ lo lắng trước tình trạng lạm phát GS, PGS, TS, dẫn tới tuy số lượng GS, PGS, TS của ta vượt nhiều nước, mà đại học của ta thì không lọt được vào số 60 đại học khá nhất ở khu vực. Việc đào tạo TS bừa bãi đi đôi với việc xét phong GS, PGS tuỳ tiện, lạc hậu, đã đẩy uy tín nền đại học ta xuống thấp chưa từng có(5). Năm 1996 một vị lãnh đạo công tác học hàm huyênh hoang tuyên bố GS, PGS ta đã phong là hoàn toàn đạt trình độ quốc tế. Nay một vị lãnh đạo công tác này thừa nhận ngược lại, 80% số GS, PGS đã được phong chưa xứng đáng. Tuy nhiên việc đó được giải thích là do ta phải căn cứ vào trình độ thực tế trong nước ! Hoá ra GS, PGS, TS của ta là “hàng nội”, phải theo tiêu chuẩn “nội”, không thể theo tiêu chuẩn quốc tế, vì tiêu chuẩn này trên trời so với ta. Điều đáng nói là trong khi công nhận những giá trị khoa học đáng ngờ thì tiêu chuẩn “nội” ấy lại gạt ra nhiều người trẻ có năng lực. Với tầm nhìn thiển cận như vậy, tôi chỉ e rồi đây đại học VN sẽ đến lúc tụt dốc không phanh. Nguyên nhân tình trạng đáng lo đó lại cũng do tư duy quản lý: trong xã hội ta, hễ một cơ quan được lập ra để phụ trách một lĩnh vực công tác gì thì y như là nó phải bo bo ôm giữ hết mọi quyền, dù năng lực và trình độ bất cập. Mà có gì khó hiểu đâu: GS, PGS là những chức vụ cụ thể ở một đại học thì chỉ đại học đó mới biết rõ nên chọn GS, PGS theo cách nào phù hợp nhất với yêu cầu của mình. Lẽ ra Hội đồng chức danh chỉ nên tập trung lo sao cho GS, PGS của bất kỳ đại học nào cũng đạt một trình độ tối thiểu theo chuẩn mực quôc tế, việc gì phải dành quyền trực tiếp làm việc tuyển chọn GS, PGS, trong khi thành viên Hội đồng đâu phải là chuyên gia giỏi nhất, và toàn năng đến mức quán xuyến được chuyên môn của từng đại học ?

[Trích đoạn]
................
 
NG Quang Hưng nói:
...Đây là trích đoạn trong bài viết của giáo sư Hoàng Tụy, liên quan đến vấn đề đang được đề cập...
Ngoài lề: GS. Hoang Tuy vừa làm 1 talk về "Introduction to global optimization" ở khoa em hồi tháng 5, đúng lúc em đi vắng mất nên ko kịp gặp, phí quá. Không biết có phải cùng 1 ông không.

Trong lề: Hay chúng mình nhất trí hủy bỏ hẳn sự nghiệp giáo dục tiến sĩ trong nước đi nhỉ. Để viết 1 bài báo tốn chừng 100USD/trang, đi 1 hội thảo cũng hết 500USD lệ phí, chưa kể ăn ở đi lại. 5-7 nhát liên tục như thế cho 12000 tiến sĩ thì sẽ ngốn ngân sách khoảng 150M USD. Tiền này đủ để xây thêm 02 sân Mỹ Đình, nhỡ sân sụp trong lúc đang đá bóng thì chuyển sang sân bên cạnh đá tiếp cho khỏi ảnh hưởng kết quả trận đấu.

/Thanh
 
Bùi Hải Thanh nói:
Ngoài lề: GS. Hoang Tuy vừa làm 1 talk về "Introduction to global optimization" ở khoa em hồi tháng 5, đúng lúc em đi vắng mất nên ko kịp gặp, phí quá. Không biết có phải cùng 1 ông không.
Chỉ có 1 cụ Hoàng Tụy làm Global optimization thôi chú Thanh ạ. Cụ này cho đến nay là giáo sư toán học tên tuổi nhất của Việt nam. Thường thì các nhà toán học có nhiều đóng góp được tổ chức mừng thọ 1 lần nhân dịp 60,65,70,75,80yo bằng int. conference/workshop, trường hợp cụ Tụy được tổ chức hồi cụ 70yo, cũng khá lâu rồi.
 
Đây là nguyên văn bài của tác giả Trần Văn Thọ đăng trên tờ Tia Sáng, mà bài của ông HVD đã trích dẫn. Thật không đầy đủ, nếu các bạn chỉ đọc qua bài của ông HVD mà không đọc bài gốc của ông TVT.

-------------------------------------------------------
Bàn lại vấn đề học vị Tiến sĩ

Năm 1996 nhân dịp về giảng dạy trong nước, tôi đã tham dự 8 buổi bảo vệ luận án phó tiến sĩ (sau đó văn bằng này được tự động chuyển thành tiến sĩ). Thấy rõ nguy cơ của việc đánh giá văn bằng này ở Việt Nam, tôi đã nêu ý kiến và đưa kiến nghị cụ thể về vấn đề này trên mục Ý kiến nhà khoa học của báo Nhân Dân số ra ngày 17-7-1997. Theo yêu cầu của Vụ trưởng Vụ đào tạo sau đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo), tôi cũng có dịp thuyết trình về đề tài này tại Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh ngày 6/3/2000. Thế nhưng cho đến nay tình hình không những không được cải thiện mà có vẻ còn trầm trọng hơn. Vì vậy, tôi xin phát biểu thêm một số ý kiến (chủ yếu về lĩnh vực kinh tế học) về bản chất của vấn đề này và làm sao để chấm dứt tình trạng hiện nay?
Theo tôi việc văn bằng tiến sĩ ở Việt Nam tiếp tục là đối tượng bị chế giễu trong thiên hạ nhưng người ta vẫn tiếp tục đổ xô vào việc lấy bằng và nhà nước vẫn tiếp tục cho đào tạo và cấp bằng này là do chúng ta hiểu chưa đúng về chuẩn mực của luận án tiến sĩ nói riêng và trình độ của người được cấp bằng tiến sĩ nói chung, cơ chế đào tạo quá lỏng lẻo, tiêu chuẩn của giáo sư hướng dẫn không được quy định nghiêm túc, chưa xác lập được cơ chế đánh giá khách quan về luận án tiến sĩ và suy nghĩ sai về ý nghĩa của văn bằng này.

Thế nào là một luận án tiến sĩ?

Trình độ của người được cấp bằng và chuẩn mực khách quan của luận án Tiến sĩ là gì? Tiến sĩ là học vị cao nhất trong khoa học. Người ta được cấp bằng tiến sĩ do đó phải am hiểu các lý luận cơ bản, các khung phân tích trong ngành mình (trong kinh tế học đó là kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô), và nắm vững các khái niệm, các khung phân tích, các lý luận và những tiến triển nghiêm cứu mới trong ngành chuyên môn hẹp của mình (chẳng hạn kinh tế phát triển, kinh tế quốc tế, kinh tế lao động…). Những kiến thức cơ bản này được trang bị từ các cấp bậc đại học và thạc sĩ nhưng ở bậc tiến sĩ phải được tiếp tục ở trình độ cao hơn và nhất là phải có cơ chế kiểm tra nghiêm túc để bảo đảm cho ứng cử viên học vị này hội đủ các điều kiện đó.

Trình độ của ứng cử viên tiến sĩ được thử thách và được nhân lên trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận án tiến sĩ. Ngoài tính khoa học, logic tất nhiên phải có, một luận án tiến sĩ phải có hai tính chất quan trọng. Thứ nhất là tính học thuật (academic) trong đó vấn đề phải được triển khai bằng ngôn ngữ khoa học, bằng những khung lý luận cơ bản trong ngành và gói ghém có phê phán tất cả các lý luận, các kết quả mà các công trình nghiên cứu trước đã đạt được liên quan đến đề tài của mình. Thứ hai là tính độc sáng (originality), luận án phải đặt ra được những vấn đề mới, đưa ra được những giả thuyết hay lý luận mới và kiểm chứng bằng những tư liệu mới.

Cần nói thêm rằng đòi hỏi chính của luận án tiến sĩ là sự đóng góp về mặt lý luận, và luận án là bằng chứng cho thấy ứng cử viên tiến sĩ có trình độ nghiên cứu độc lập, chứ không đòi hỏi phải giải quyết một vấn đề thực tiễn thì càng tốt nhưng đó là thứ yếu). Sau khi lấy bằng tiến sĩ, tùy theo nhu cầu công tác lúc đó mới cần nghiên cứu nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn. Tại Việt Nam, chí ít là trong lĩnh vực kinh tế, hình như đa số hiểu sai về ý nghĩa của luận án tiến sĩ. Các đề tài của một luận án tiến sĩ kinh tế học ở Việt Nam thường là "Những giải pháp để…" (chẳng hạn, những giải pháp để huy động vốn, những giải pháp để thu hút đầu tư nước ngoài phục vụ chiến lược công nghiệp hóa…). Dĩ nhiên các đề tài này có thể được chọn là đối tượng nghiên cứu nhưng đó chỉ là trường hợp được chọn để kiểm chứng một vấn đề có tính cách lý luận chứ không phải nhằm để giải quyết một vấn đề thực tế. Ở Việt Nam, được biết nhiều đề tài cấp nhà nước, cấp bộ tốn hàng tỉ đồng và huy động hàng chục nhà nghiên cứu nhưng ít có công trình trực tiếp giải quyết vấn đề thực tiễn mà tại sao lại kỳ vọng ở công trình của một người với phí tổn đào tạo chưa tới 3 triệu đồng 1 năm.

Cách suy nghĩ về việc chọn đề tài ở Việt Nam chỉ làm cho luận án tiến sĩ thiếu tính học thuật và phần lớn thiếu tính độc sáng. Nội dung, trình độ của luận án do đó còn rất xa mới đạt được tiêu chuẩn tối thiểu của thế giới và người được cấp bằng trong những trường hợp đó khó có thể thảo luận khoa học với chuyên gia nước ngoài trong cùng ngành.

Học và nghiên cứu như thế nào để viết được luận án tiến sĩ?

Ở nước ngoài, để có đủ kiến thức nhận tư cách ứng viên và để viết được luận án tiến sĩ có đủ tính học thuật và tính độc sáng, nghiên cứu sinh phải tập trung học liên tục và rất vất vả trong nhiều năm. Tôi xin kể trường hợp của 2 sinh viên mà tôi đã hưỡng dẫn bảo vệ thành công luận án tiến sĩ 2 năm qua. Sinh viên Trung Quốc lấy tiến sĩ năm 2002, là sinh viên du học tự túc nên phải làm thêm mỗi tuần 2 ngày nhưng 5 ngày còn lại tập trung học, nghiên cứu và đã mất tất cả 5 năm sau khi lấy bằng thạc sĩ và thi đỗ vào bậc tiến sĩ. Sinh viên Việt Nam bảo vệ thành công luận án tiến sĩ đầu năm 2003, có học bổng của chính phủ Nhật nên chuyên tâm vào việc học và làm luận án, nhưng cũng mất 4 năm. Trừ những kỳ nghỉ hè, nghỉ Tết, hàng tuần tôi có trách nhiệm mở lớp hướng dẫn nghiên cứu gọi là seminar và tất cả các nghiên cứu sinh học với tôi (thuộc nhiều năm học khác nhau trong hai bậc thạc sĩ và tiến sĩ) đều phải tham dự. Mỗi tuần có 1 hoặc 2 nghiên cứu sinh báo cáo về sự tiến triển của đề tài nghiên cứu của mình, các nghiên cứu sinh khác tham gia thảo luận để vừa giúp bạn gợi mở các ý tưởng mới vừa tham khảo phương pháp luận nghiên cứu và thông tin về động hướng nghiên cứu cảu từng đề tài mà giáo sư hướng dẫn chỉ ra cho người báo cáo. Nghiên cứu sinh bậc tiến sĩ trong năm đầu phải theo học nhiều môn liên hệ với nhiều giáo sư khác, song song với việc tham gia seminar của giáo sư hướng dẫn mình để từng bước xây dựng đề cương nghiên cứu. Việc xây dựng đề cương là quá trình lao động vất vả nhất vì đề cương phải cho thấy luận án khi hoàn thành sẽ có đủ 2 tính chất học thuật và độc sáng nói trên. Các nghiên cứu sinh bậc tiến sĩ cứ độ vài ba tháng báo cáo trong seminar một lần và khi cần thiết đến phòng nghiên cứu của giáo sư để được hướng dẫn thêm. Nhiều sinh viên không xây dựng được đề cương, cuối cùng phải bỏ học.

Ở Việt Nam, việc học ở bậc tiến sĩ quá đơn giản. Tại một cơ sở đào tạo nọ, nghiên cứu sinh chỉ phải học 3 chuyên đề thầy giáo chỉ giảng 1 ngày sau đó nghiên cứu sinh tự làm các tiểu luận liên hệ (các chuyên đề nhiều khi cũng chỉ là những vấn đề thực tế, không nhất thiết là chuyên đề giúp cho nghiên cứu sinh nắm vững hơn về mặt lý luận và phương pháp nghiên cứu. Đây cũng là hệ quả tất yếu khi luận án tiến sĩ không đòi hỏi phải có tính học thuật). Quan hệ với giáo sư hướng dẫn cũng lỏng lẻo (vấn đề giáo sư hướng dẫn sẽ nói thêm sau). Cũng vì việc học không đòi hỏi sâu về mặt lý luận và luận án không đòi hỏi có tính học thuật và độc sáng nên nhiều người học tại chức cũng có thể bảo vệ "thành công" luận án trong 3-4 năm. Ở nước ngoài khó có thể tưởng tượng được là một người đương phải đảm trách công việc quản ký xí nghiệp hay quản lý nhà nước mà chỉ trong 3-4 năm có thể lấy được bằng tiến sĩ (trừ trường hợp người đó được biệt phái 3-4 năm để đi học). Ở Nhật thỉnh thoảng có trường hợp một quan chức ở một bộ phận kinh tế hay ngân hàng nhà nước bảo vệ thành công luận án tiến sĩ nhưng đó là trường hợp rất đặc biệt của những người có khả năng nghiên cứu lý luận và công việc hàng ngày của họ cũng liên quan đến nghiên cứu, và nhất là có công trình nghiên cứu công bố trên các tạp chí khoa học có uy tín (cũng cần nói thêm là những quan chức ấy muốn lấy bằng tiến sĩ là để trong tương lai gần chuyển sang nghề dạy học hoặc nghiên cứu ở các viện, chứ văn bằng không liên quan gì đến việc đề bạt ở các cơ quan quản lý).

Về giáo sư hướng dẫn viết luận án tiến sĩ

Để cho dễ hiểu tôi mạn phép bắt đầu bằng trường hợp cụ thể của tôi. Tôi phụ trách dạy môn kinh tế ngoại thương và môn kinh tế chuyển đổi (từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường) cho sinh viên bậc đại học và phụ trách dạy môn kinh tế phát triển cho sinh viên (nghiên cứu sinh) sau đại học. Nói chung phạm vi chuyên môn của tôi về mặt lý thuyết là kinh tế phát triển và kinh tế quốc tế, và về mặt thực tiễn là kinh tế Á châu. Để cập nhật nội dung các bài giảng, để hướng dẫn nghiên cứu sinh làm luận án, và để tiến hành các đề tài nghiên cứu của riêug mình, dĩ nhiên tôi phải theo dõi thường xuyên động hướng nghiên cứu trên thế giới liên quan đến chuyên môn của mình. Ngoài việc theo dõi trên sách và tạp chí chuyên môn, phải thường xuyên tham gia báo cáo, thảo luận tại các hội thảo khoa học, nhất là tham gia các hoạt động của hội khoa học chuyên ngành. Các hội này tổ chức báo cáo khoa học hàng tháng tại vùng mình sinh sống và hàng năm tổ chức đại hội toàn quốc để hội viên (đã được chọn) báo cáo thành quả nghiên cứu của mình.

Nói chung đây là hoạt động thông thường của một giáo sư ở đại học Nhật. Nhưng đây mới chỉ là điều kiện cần của một người có tư cách hướng dẫn nghiên cứu sinh làm luận án tiến sĩ. Điều kiện đủ là công trình, thành quả nghiên cứu của giáo sư đã được đánh giá trong giới khoa học. Ở các đại học lớn mỗi khoa thường có độ 50 giáo sư nhưng chỉ có độ 25 người có tư cách dạy ở bậc tiến sĩ. Tóm lại, điều kiện tối thiểu của một người có tư cách hướng dẫn nghiên cứu sinh làm luận án phải là một giáo sư đương nhiệm mà công việc chính là giảng dạy và nghiên cứu tại một đại học hay một viện nghiên cứu. Nếu không là đương nhiệm thì về mặt cơ chế không có tư cách hướng dẫn hay phản biện luận án tiến sĩ, và về mặt thực tế không thể giúp sinh viên chọn một đề tài có tính độc sáng vì người đó không có điều kiện theo dõi những nghiên cứu mới trên thế giới về ngành của mình.

Một điều rất lạ với thế giới nhưng rất phổ biến ở Việt Nam là nhiều vị có học hàm, học vị nhưng đã chuyển sang làm quản lý và các công việc khác không liên quan đến nghiên cứu và giảng dạy lại được mời làm thành viên hội đồng chấm luận án, thậm chí được mời làm giáo sư hướng dẫn cho nghiên cứu sinh. Dĩ nhiên có thể có trường hợp ngoại lệ là các vị đó vẫn tiếp tục phát biểu các công trình nghiên cứu về học thuật trên các tạp chí khoa học, được giới khoa học trong ngành đánh giá cao, nhưng trường hợp này rất hiếm và khó thấy ở các nước khác.

Cơ chế phương pháp đánh giá luận án tiến sĩ

Khi các vấn đề về chuẩn mực của luận án, về cơ chế nghiên cứu học tập của sinh viên và về tư cách giáo sư thành viên chấm luận án nói ở trên được giải quyết đúng đắn thì việc đánh giá luận án không còn là vấn đề khó khăn. Hơn nữa, giáo sư hướng dẫn là người chịu trách nhiệm đầu tiên về việc đánh giá. Không một giáo sư nào thấy luận án của học trò mình chưa đạt tiêu chuẩn khách quan về học thuật và độc sáng mà dám đưa ra hội đồng bảo vệ. Có thể còn nhiều dư địa để cải thiện hơn nữa mà giáo sư hướng dẫn không thấy hết nhưng ít nhất 2 tiêu chí nói trên của luận án tiến sĩ được xem là đạt rồi mới cho bảo vệ. Trên cơ sở đó, các giáo sư khác trong hội đồng, cũng trên uy tín của mình, phải đánh giá thẳng thắn. Ở đây không cần bảo vệ kín mà vẫn giữ được sự khách quan là vì vậy. Cần nói thêm nữa là trong quá trình chuẩn bị luận án, nghiên cứu sinh được báo cáo trước hội đồng chấm luận án một hoặc hai lần trước khi bảo vệ cuối cùng ít nhất là 1 năm để nhận các ý kiến hướng dẫn cho giai đoạn tới.

Ngoài ra, để bảo đảm tối đa sự khách quan của việc đánh giá, ở Nhật và các nước tiến tiến khác người ta đặt cơ chế xã hội hóa việc đánh giá trước khi cho nghiên cứu bảo vệ. Có hai hình thức xã hội hóa. Một là để được bảo vệ cuối cùng, nghiên cứu sinh phải có ít nhất 2 hoặc 3 (tùy trường đại học) công trình liên quan đến luận án đăng ở các tạp chí có thẩm định (referee). Tạp chí có thẩm định là tạp chí khi ban biên tập nhận bài xin gửi đăng sẽ gửi bài đó (thường là sau khi che giấu tên người viết) đến ít nhất 2 nhà nghiên cứu cùng ngành để nhờ thẩm định. Tên tuổi của các người thẩm định dĩ nhiên không được công bố. Người thẩm định sẽ dựa trên tiêu chuẩn học thuật và tính độc sáng của bài viết khi đưa ra quyết định đăng hay không. Các bài viết đăng ở các tạp chí không có chế độ thẩm định khách quan này không được xem là công trình nghiên cứu.

Một hình thức nữa là cho nghiên cứu sinh báo cáo trước đại hội toàn quốc hàng năm của hội những nhà khoa học thuộc các ngành chuyên môn (tôi đã cho sinh viên Trung Quốc và sinh viên Việt Nam nói trên ra báo cáo kết quả nghiên cứu tại Hội nghiên cứu chính trị và kinh tế Á châu). Ở Nhật nghiên cứu sinh bậc tiến sĩ có thể trở thành thành viên của các hội khoa học. Để được báo cáo, nội dung tóm tắt của luận án phải được thông qua ở ban tổ chức đại hội. Điều quan trọng là trước mặt các nhà khoa học trên toàn quốc, luận án của học trò mình bị chê là không độc sáng hoặc thiếu sót lớn về mặt khoa học thì người chịu tai tiếng đầu tiên là giáo sư hướng dẫn. Trong trường hợp đó, về mặt khách quan, xem như nghiên cứu sinh ấy không thể bảo vệ ngay ở đại học được nữa mà phải nghiên cứu thêm.

Dưới cơ chế đào tạo nói trên và sau khi đã xã hội hóa việc đánh giá, cuộc bảo vệ cuối cùng đương nhiên sẽ đưa lại kết quả tốt. Cần nói thêm rằng trong khi nêu ý kiến đánh giá của mình trong hội đồng, không có giáo sư nào phát biểu những câu như "luận án này văn phong sáng sủa, bố cục chặt chẽ…", mà chỉ xoay quanh tính học thuật và tính độc sáng của luận án. Ngay cả trường hợp nghiên cứu sinh của Trung Quốc và người Việt Nam của tôi viết và bảo vệ luận án bằng tiếng Nhật cũng không có ai khen theo kiểu như vậy. Có dịp tham dự mấy buổi bảo vệ tại Việt Nam, tôi rất ngạc nhiên khi nghe những câu đánh giá như vậy và có cảm tưởng như người phát ngôn đương nói về một luận án tốt nghiệp đại học.

Vài lời kết

Việt Nam phải đứng trước một sự lựa chọn giữa hai con đường: (1) Duy trì cơ chế hiện tại, tiếp tục sản xuất bằng tiến sĩ theo tiêu chuẩn của riêng mình, và văn bằng này xem như hàng nội địa chỉ tiêu thụ tại nước mình. (2) Xem học vị tiến sĩ sản xuất trong nước phải tương đương hoặc gần tương đương với văn bằng ở nước ngoài.

Nếu chọn con đường thứ hai thì tôi đề nghị như sau:

Thứ nhất, cần đặt lại vấn đề chuẩn mực của luận án tiến sĩ, nhấn mạnh tính học thuật và tính độc sáng của luận án.

Thứ hai, tham khảo các trường hợp điển hình ở nước ngoài, rà soát lại các tiêu chuẩn của giáo sư hướng dẫn làm luận án và các cơ sở được phép đào tạo tiến sĩ theo hướng nâng cao hẳn các tiêu chuẩn để theo gần với nước ngoài.

Thứ ba, người có học hàm học vị cao nhưng không phải là giáo sư đương nhiệm ở đại học hoặc cơ quan nghiên cứu thì không được phép tham gia hội đồng đánh giá luận án.

Thứ 4, 3 điểm nói trên thực hiện triệt để sẽ thấy rằng Việt Nam hiện nay chưa đủ điều kiện để đào tạo và cấp hàng loạt văn bằng tiến sĩ, do đó vấn đề tiếp theo là chuẩn bị cơ chế và nhân tài để 10 năm tới có thể đào tạo nhiều hơn văn bằng này.

Điều kiện tối thiểu của một người có tư cách hướng dẫn nghiên cứu sinh làm luận án phải là một giáo sư đương nhiệm mà công việc chính là giảng dạy và nghiên cứu tại một đại học hay một viện nghiên cứu.

Thứ năm, không xem văn bằng tiến sĩ là một trong những tiêu chuẩn để đề bạt ở các cơ quan quản lý của nhà nước hoặc các cơ quan khác. Không cấp kinh phí và không tạo điều kiện khác cho cán bộ đi học tại chức bậc tiến sĩ (kinh phí này nên dành cho việc gửi cán bộ ra nước ngoài tu nghiệp ngắn hạn).

Ta có thể tự hào rằng giới trẻ Việt Nam rất thông minh. Nhiều nghiên cứu sinh người Việt Nam thành công xuất sắc trong việc bảo vệ luận án tiến sĩ tại Nhật. Tôi cũng đã gặp nhiều bạn trẻ lấy bằng tiến sĩ ở Mỹ, ở Úc… về đương làm việc tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh…, tất cả đều rất giỏi. Nếu ta có cơ chế, chính sách đúng đắn, tại Việt Nam cũng sẽ nhiều tiến sĩ tài giỏi.

Trần Văn Thọ

Tia Sáng (số 17)
 
Em cũng nghĩ rằng Việt Nam mình nếu vẫn duy trì việc đào tạo tiến sĩ thì nhất thiết phải cải thiện lại toàn bộ bộ máy này. Nếu không thể làm được thì tốt nhất là nên bỏ việc đào tạo tiến sĩ đi thì hơn. Ít nhất tại Việt Nam không phải ngành nào hiện nay đang đào tạo tiến sĩ cũng có đủ khả năng để làm việc này. Có lẽ chỉ có một số ngành là có khả năng đào tạo tiến sĩ theo tiêu chuẩn quốc tế.
 
Top